Phân lân nung chảy dạng viên | SẢN PHẨM | Công ty cổ phần phân lân Ninh Bình

Phân lân nung chảy dạng viên | SẢN PHẨM | Công ty cổ phần phân lân Ninh Bình

English Vietnamese
Giới thiệu sản phẩm

  • Phân NPK-S+TE NINH BÌNH 17.5.16-6S+TE

  • Phân lân nung chảy dạng viên

  • Phân đa dinh dưỡng NPKS 10-12-5-3S-20CaO

  • Phân đa dinh dưỡng NPK 17-5-16-1

  • Phân NPK NINH BÌNH 9.10.2-8

  • Phân NPK NINH BÌNH 6.10.2-8

  • Phân NPK NINH BÌNH 11-2-11+TE

  • Phân đa dinh dưỡng NPK 10-12-5

  • Phân đa dinh dưỡng NPK 10-10-12

  • Phân đa dinh dưỡng NPK 10-10-5

  • Phân đa dinh dưỡng NPKS 6-12-2-2

  • Phân đa dinh dưỡng NPK 6-12-2

  • Phân đa dinh dưỡng NPK 5-12-3

  • Phân NPK NINH BÌNH 8-10-3-8

  • Phân NPK NINH BÌNH 16.12.8 +TE

  • Phân NPK NINH BÌNH 5-10-3-8

  • Phân NPK NINH BÌNH 12-2-10+TE

  • Phân NPK NINH BÌNH 16-16-8 +TE

  • Phân lân nung chảy (FMP)
Video
Công ty cổ phần Phân lân Ninh Bình

Giải thưởng

  • HUY CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG 2

  • GIẢI VÀNG CHẤT LƯỢNG QUỐC GIA

  • HUY CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG 3

  • SAO VÀNG ĐẤT VIỆT NĂM 2005 VÀ 2008

  • SAO VÀNG ĐẤT VIỆT NĂM 2011 VÀ 2013

  • GIẢI THƯỞNG TRÍ TUỆ VIỆT NAM

  • GIẢI THƯỞNG BẠN NHÀ NÔNG

  • HÀNG VIỆT NAM CHẤT LƯỢNG CAO

  • THƯƠNG HIỆU MẠNH 2009

  • THƯƠNG HIỆU XANH BỀN VỮNG

  • VÌ SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TNMT

  • THƯƠNG HIỆU MẠNH 2008

  • THƯƠNG HIỆU VIỆT

  • THƯƠNG HIỆU HỘI NHẬP QUỐC TẾ

  • CÚP NÔNG NGHIỆP NÔNG DÂN NÔNG THÔN

  • BÔNG LÚA VÀNG VIỆT NAM
Phân lân nung chảy dạng viên
Phân lân nung chảy dạng viên
02:57 - 30/06/2016

1. Công nghệ sản xuất phân lân nung chảy

Phân lân nung chảy Ninh Bình được sản xuất theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 1078:1999.

Công nghệ sản xuất: Dùng nhiệt của than Antracit, nấu chảy lỏng quặng có chứa lân (P2O5) cùng với quặng secpentin, sa thạch trong lò cao ở nhiệt độ 1400oC – 1450oC, rồi làm lạnh đột ngột bằng nước có áp lực cao. Sau đó sấy khô, sàng tạo thành lân dạng hạt (cỡ hạt <  3 mm).

Phân lân dạng hạt được phối trộn với các chất dinh dưỡng và chất tạo hạt  đưa vào máy tạo hạt thành dạng viên, sau đó đem sấy khô, sàng phân loại tạo thành phân lân nung chảy dạng viên. 

2 . Thành phần, đặc điểm của phân lân nung chảy Ninh Bình dạng viên

2.1 Thành phần dinh dưỡng: P2O5 hữu hiệu ≥ 17%;  CaO ≥ 20% ;  MgO ≥ 10%; SiO2 ≥ 20%

các chất vi lượng (p.p.m.): Fe, Cu, Zn, B, Mn,...

2.2 Đặc điểm:

- Là loại phân không tan trong nước nên hạn chế rửa trôi . Phân tan  ≥ 98% trong dịch axít yếu ( dịch rễ cây tiết ra)

- Phân có tác dụng khử chua, cải tạo đất.

- Cỡ hạt:  1mm - 5 mm ; Tỷ trọng: 1,4 – 1,5

- Độ ẩm: < 7% ; không đóng vón, đóng cục.

 

(Phân lân nung chảy dạng viên)


 

3. Sử dụng phân lân nung chảy Ninh Bình 

+ Sử dụng thích hợp cho các loại cây: như cây lúa nước, cao su, cà phê, hồ tiêu, dâu tằm, bông, dứa, mía, và các loại cây ăn quả khác .v.v. Đặc biệt trên các loại đất như chua phèn; chua trũng; lầy thụt; đất bazan; đất đồi núi; đất bạc mầu...hiệu quả của phân rất cao.

+ Phân dễ dàng trộn với phân đạm Urê, phân Kali để bón. Khi trộn xong phải bón ngay không để dự trữ ( tránh viên lân hút ẩm của đạm, kali gây chảy nước)

4. Phương pháp thử

Theo TCVN 5815:2001 (có bản phương pháp thử TCVN 5815:2001 đính kèm)

5. Phương pháp thử TCVN 5815: 2001

5.1. Phân hủy mẫu theo phương pháp hai bước (phương pháp áp dụng cho các loại phân hỗn hợp không rõ thành phần hoặc chứa nhiều các dạng lân khác nhau).

 5.2. Thuốc thử, dung dịch và thiết bị:

Các dụng cụ thông thường dùng trong phòng thí nghiệm và:

- axit xitric, dung dịch 2 %;

- dung dịch petecman chứa 173 gam axit xitric và 42 gam nitơ dạng amoni trong 1 lít dung dịch được chuẩn bị như sau:

Rót vào bình thủy tinh có vạch mức 1 lít lượng dung dịch amoniac 10 % (X) đã  tính ở trên. Cân 173 g axit xitric vào cốc, hòa tan bằng 200 - 250 ml nước nóng, để nguội dung dịch đến nhiệt độ phòng sau đó rót từ từ dung dịch axit xitric qua phễu vào bình chứa dung dịch amoniac, cần phải làm lạnh bình chứa dung dịch để nhiệt độ không quá nóng. Sau khi đã chuyển hết axit xitric vào bình, tráng phễu bằng nước, nước tráng cũng được thu vào bình đựng dung dịch petecman, lắc đều. Để nguội dung dịch, thêm nước đến vạch, lại lắc đều dung dịch và để yên hai ngày trước khi đem sử dụng;

5.3. Tiến hành hủy mẫu

Cân khoảng 2,5 g mẫu chính xác đến 0,0001 g vào cối sứ và nghiền nhỏ (nếu phân hỗn hợp NPK sử dụng phân lân nung chảy dạng cục chưa nghiền thì trước khi cân phải nghiền nhỏ màu bằng cối sắt), thêm 20 ml dung dịch axit xitric 2 % và tiếp tục nghiền. Để lắng cặn rồi gạn phần dung dịch trong qua phễu lọc thủy tinh vào bình mức dung tích 250 ml. Tiếp tục nghiền cặn trên cối hai lần, mỗi lần với 20 ml dung dịch axit xitric 2 %. Sau đó chuyển toàn bộ cặn trên cối vào bình định mức, tráng rửa chày, cối và phễu cũng bằng dung dịch axit xitric. Toàn bộ lượng axit xitric được dùng là 200 ml. Đậy nút bình và lắc bình trên máy lắc ít nhất 30 phút, lọc dung dịch qua giấy lọc băng xanh vào một bình định mức dung tích 250 ml khác. Tráng và rửa cặn bằng khoảng 40 ml nước, thu toàn bộ nước rửa vào bình định mức đựng dung dịch lọc. Khi đã chảy hết dung dịch trên giấy lọc, thêm nước đến vạch và lắc đều ( dung dịch A).

Chuyển giấy lọc chứa cặn vào bình định mức đã sử dụng để phân hủy mẫu, thêm vào 100 ml dung dịch petecman, đậy nút bình, lắc mạnh cho giấy lọc tan thành sợi. Đặt bình vào bếp cách thủy đã được ổn nhiệt ở nhiệt độ 60OC ± 1OC. Sau 15 phút lấy bình ra lắc đều và lại để ổn nhiệt thêm 15 phút nữa. Sau đó lấy ra để nguội đến nhiệt độ phòng, thêm nước đến vạch, lắc đều và lọc qua giấy lọc băng xanh, bỏ phần dung dịch lọc đầu (dung dịch B).

Khi thể tích thử lấy từ dung dịch A và B những lượng bằng nhau.

5.4. Xác định hàm lượng P2O5 hữu hiệu bằng phương pháp khối lượng (phương pháp trọng tài)

Chú thích – phụ lục A giới thiệu phương pháp nhanh xác định hàm lượng P2O5 hữu hiệu.

5.4.1. Nguyên tắc

Phương pháp dựa trên việc kết tủa ion phốt phát bằng hỗn hợp muối magie dưới dạng magie amoni phốt phát và nung, cân kết tủa dạng Mg2P2O7.

5.4.2. Thuốc thử, dung dịch và thiết bị:

- amoni hidroxit, dung dịch 2,5; 10 và 25 %;

- amoni clorua, tinh thể;

- magie clorua, tinh thể;

- axit clohidric, dung dịch 20 %;

- phenolphtalein, dung dịch 1 % trong rượu etylic;

- hỗn hợp magie kiềm tính; hòa tan 70 g amoni clorua và 55 g magie clorua trong 500 ml nước, thêm 250 ml dung dịch amoni hidroxit 10 %, thêm nước đến 1 lít, lắc đều, để qua đêm rồi lọc dung dịch;

- amoni xitrat, dung dịch 50 %: hòa tan 500 g axit xitric trong 600 ml dung dịch amoni hidroxit 25 %. Dung dịch phải trung tính theo metyl đỏ, thêm nước đến 1 lít, lắc và rót lọc;

- lò nung.

5.4.3. Tiến hành thử

Dùng pipet hút 50 ml dung dịch đã được chuẩn bị theo các điều 5.1; 5.2; hoặc 50 ml dung dịch A và 50 ml dung dịch B theo điều 5.3 vào cốc dung tích 250 ml. Thêm vào cốc 20 ml axit clohidric và đun sôi 15 - 20 phút. Sau đó thêm nước đến 50 ml (trường hợp dung dịch chuẩn bị theo điều 5.3 thì không cần thêm nước). Thêm 10 ml amoni xitric và trung hòa dung dịch bằng dung dịch amoni hidroxit 10 % theo chỉ thị phenolphtalein. Vừa khuấy vừa thêm vào cốc 35 ml hỗn hợp magiê. Sau 10 - 15 phút thêm vào 20 ml dung dịch amoni hidroxit 25 % và tiếp tục khuấy thêm 30 phút nữa hoặc để yên dung dịch ít nhất là 4 giờ nhưng không quá 18 giờ. Nếu khuấy liên tục thì sau đó để yên dung dịch 30 - 40 phút rồi lọc dung dịch qua giấy lọc không tàn, băng xanh có đường kính 9 - 11 cm.

Chuyển định lượng toàn bộ kết tủa lên giấy lọc bằng dung dịch amoni hidroxit 2,5 %, tráng kỹ thành và đáy cốc cũng bằng dung dịch đó, sau đó tiếp tục rửa kết tủa trên giấy lọc thêm 3 - 4 lần nữa. Tổng lượng dung dịch amoni hidroxit dùng để rửa khoảng 100 - 125 ml.

Giấy lọc chứa kết tủa được chuyển vào chén nung đã được nung ở nhiệt độ 900 - 950 OC đến khối lượng không đổi và đã được cân, với độ chính xác 0,0001 g. Tro hóa ở 300 - 500 OC đến khi giấy lọc cháy hoàn toàn và tiếp tục nung trong lò ở nhiệt độ 900 - 950 OC cho tới khi kết tủa trắng hoàn toàn. Lấy chén nung ra, để nguội chén trong bình hút ẩm và cân chính xác đến 0,0001 g.

Mẫu trắng được tiến hành đồng thời trong cùng một điều kiện với cùng một lượng các dung dịch và thuốc thử nhưng không chứa mẫu cần xác định.

5.4.4. Tính kết quả

Hàm lượng P2O5 hữu hiệu, tính bằng phần trăm theo công thức:

P2O5 (%) = (m-m1)*250*0,638*100/(50*m2)

trong đó:

m là khối lượng kết tủa của mẫu phân tích, tính bằng gam;

m1 là khối lượng kết tủa mẫu trắng, tính bằng gam;

m2 là khối lượng mẫu cân, tính bằng gam;

0,638 là hệ số chuyển đổi từ Mg2P2O7 sang P2O5.

Kết quả của phép thử là giá trị trung bình các kết quả của hai lần thử được tiến hành song song, sai lệch cho phép giữa chúng không được vượt quá 0,2 % giá trị tuyệt đối.